Hỏi đáp

Họ Lưu Có Nguồn Gốc Từ Đâu

Dân tộc Việt Nam được hình thành từ các họ tộc. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy Việt Nam có khoảng trên dưới 300 dòng họ. Theo số liệu thống kê năm 2005 [1] thì 14 dòng họ phổ biến (có tỷ lệ 0,5% dân số trở lên, như Nguyễn, Trần, Lê…) chiếm khoảng 90% dân số; 10% còn lại là thuộc các dòng họ khác, trong đó có họ Lưu Việt Nam
211
camnanghaiphong

Tag: họ lưu có nguồn gốc từ đâu



Dân tộc Việt Nam được hình thành từ các họ tộc. Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy Việt Nam có khoảng trên dưới 300 dòng họ. Theo số liệu thống kê năm 2005 [1] thì 14 dòng họ phổ biến (có tỷ lệ 0,5% dân số trở lên, như Nguyễn, Trần, Lê…) chiếm khoảng 90% dân số; 10% còn lại là thuộc các dòng họ khác, trong đó có họ Lưu Việt Nam

  1. Sự hình thành Họ Lưu Việt Nam

Họ Lưu Việt Nam là một trong những dòng họ có từ thời Hùng Vương và được nhắc tới rất sớm trong lịch sử đất nước. Điều đó thể hiện qua tài liệu giới thiệu về đền Đồng Cổ tại làng Đan Nê, xã Yên Thọ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa. Làng Đan Nê trước thời nhà Trần gọi là ấp Khả Lao. Ấp Khả Lao nổi tiếng vì có miếu Đồng Cổ (miếu sau này gọi là đền; Đồng Cổ là theo âm Hán, tiếng Việt là Trống Đồng). Ấp này là do người của ba họ Trịnh, Lưu và Hà dựng nên, minh chứng qua vế đối: “Vật Lưu Bách Việt tổ; Kiến ấp Trịnh Lưu Hà” [2; tr. 695]. Hiện nay, xung quanh đền Đồng Cổ vẫn còn lưu giữ được mộ tổ và nhà thờ của cả ba dòng họ.

Trong truyện cổ tích “Sự tích trầu cau” có từ thời Hùng Vương, cô con gái đạo sỹ họ Lưu, lấy người anh trong cặp sinh đôi là học trò họ Cao, do cha cô dạy học [3]. Ngoài ra, một số dòng họ Lưu ở một số địa phương có ghi lại trong gia phả hoặc truyền miệng qua nhiều thế hệ là có từ thời Hùng Vương, như dòng họ Lưu Hữu ở thôn Lâu Thượng (xã Trưng Vương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ) hay họ Lưu Viết ở xã Yên Thắng (huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình); họ Lưu Văn ở làng Đại Độ (xã Võng La, Đông Anh, Hà Nội)…

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Đền Đồng Cổ, thôn Đan Nê, xã Yên Thọ, Yên Định, Thanh Hóa.

Người họ Lưu Việt Nam sinh sống trong tất cả các tỉnh thành trong cả nước. Ngoài ra, còn có một số người họ Lưu gốc Việt đang sinh sống và làm ăn ở nước ngoài, như Mỹ, Úc, Canada, Trung Quốc, Ý, Đan Mạch v.v.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu


Tài liệu có ghi “Miếu Đồng Cổ được khởi dựng từ thời Hùng Vương”

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Đoàn khảo sát (gồm có các thượng tọa, nhà văn hóa tâm linh và đại diện ba họ Trịnh, Lưu, Hà) thắp hương viếng Mộ Tổ họ Lưu nằm sau đền Đồng Cổ, trên bờ sông Mã

Các cuộc Nam tiến trong lịch sử cũng có nhiều người họ Lưu di cư vào Nam. Đầu tiên là theo đại quân của Lê Đại Hành (năm 982) vào Bình định, Chiêm Thành để tránh hiểm họa cấu kết Chiêm Thành với nhà Tống nhằm xâm lấn nước Đại Cồ Việt. Sau đó là theo vua Lý Thánh Tông (năm 1069) vào đánh Chiêm Thành chuẩn bị cho cuộc chiến tranh chủ động vệ quốc chống quân Tống ở phương Bắc. Thời nhà Trần, một số dân chúng di vào vùng đất Hồi Môn của Huyền Trân Công chúa khi vua Trần Anh Tông (theo Thánh chỉ của Thượng hoàng Trần Nhân Tông) gả cho Chế Mân (Vua của Chiêm Thành) để thiết lập liên minh chống quân Nguyên – Mông xâm lược. Tiếp theo, vua Lê Thánh Tông vào dẹp loạn quấy nhiễu của quân Chiêm Thành và theo Chúa Nguyễn vào định cư ở phía Nam và mở mang xuống Phương Nam v.v. Trong các cuộc di dân Nam tiến đó có nhiều người, dòng họ Lưu là một trong các dòng họ lập nên các trang ấp mới tại các tỉnh từ Quảng Bình trở vào, như họ Lưu phường Thủy Xuân, TP Huế (gốc từ làng Nôm, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) hay họ Lưu ở phường Vĩ Dạ, TP Huế (gốc từ xã Hưng Đạo, huyện Hưng Nguyên, Nghệ An), họ Lưu ở các làng Dưỡng Mông, Bì Nhai, Duy Trinh, Trà Kiệu thuộc tỉnh Quảng Nam…

Mặt khác, trong lịch sử xây dựng và phát triển các nước sự giao thoa quan dân giữa các nước láng giềng thường xẩy ra với nhiều lí do khác nhau, có thể do nội chiến phải chạy loạn, do chiến tranh xâm lấn, do thiên tai, do giao thương và làm ăn v.v. Hiện tượng đó cũng xẩy ra giữa hai nước Trung Quốc và Việt Nam. Số người Trung Quốc sang định cư ở Việt Nam tuy chiếm tỉ lệ rất nhỏ, nhưng đã hòa nhập ổn định, trở thành người dân địa phương. Họ cũng tham gia tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam. Họ mang nhiều dòng họ khác nhau, trong đó có họ Lưu. Ví dụ là người Hoa sống ở các thành phố, người Sán Dìu sống dọc biên giới phía Bắc và người Minh Hương sống ở đồng bằng sông Cửu Long…

Bản thân người họ Lưu cũng có một số đổi tên sang họ khác, ví như được vua ban quốc tính (Đại tướng Lưu Trung, Tể tướng Lưu Nhân Chú được vua Lê Thái Tổ ban cho họ vua và trở thành Lê Trung, Lê Nhân Chú) hay vì lí do bảo tồn dòng họ trước hiểm họa bị tiêu diệt, hoặc trả ơn người đã bao dung, cưu mang lúc hoạn nạn, như dòng họ Phạm Công của Tiến sĩ Lưu Hãng (ở huyện Hoài Đức, Hà Nội). Ngược lại có số người họ khác chuyển sang mang họ Lưu, như họ Lưu Trần ở xã Hoằng Phúc (Thanh Hóa), một chi họ Lưu ở thôn Đan Nê thực chất là họ Trịnh…

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Đồng tộc họ Lưu trên cầu Nôm bằng đá đã có từ nhiều trăm năm (chụp 20/04/2013)

  1. Những nhân vật tiêu biểu Họ Lưu Việt Nam trong lịch sử:

Các thời kỳ tự chủ của quốc gia Đại Việt (939-1858), gồm nhà Ngô, Đinh, Lê (Tiền Lê), Lý, Trần, Lê (Hậu Lê), Tây Sơn và Nguyễn, Họ Lưu Việt Nam có nhiều danh nhân lịch sử tiêu biểu, đóng góp lớn cho trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tiêu biểu nhất là các công thần khai quốc, như gây dựng nhà Đinh là Thái sư Đô hộ phủ Lưu Cơ (940-1013) [4; tr.403-411], Thái úy Lưu Khánh Đàm và Thái phó Lưu Điều xây dựng nhà Lý [5] và Tể tướng Lưu Nhân Chú, Đại tướng Lưu Trung xây dựng nhà Hậu Lê [6; tr.212].

Thái sư Lưu Cơ là người trang Tri Hối, châu Đại Hoàng, Ái Châu (nay thuộc xã Gia Tân, huyện Gia Viễn, Ninh Bình) là con cầu tự tại Bạch Bát Sơn Thần (thuộc xã Bạch Liên, Yên Mô, Ninh Bình), nên còn được gọi là Lưu Thiên Tử. Ông cùng Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Trịnh Tú là tứ trụ triều đình cùng Đinh Bộ Lĩnh lập lên nhà Đinh, nước Đại Cồ Việt, do Đinh Bộ Lĩnh làm Hoàng đế. Năm 971, sau khi dẹp xong các sứ quân (Lưu Cơ bình định sứ quân Lý Khuê), yên vị ngôi Hoàng đế, Đinh Tiên Hoàng đã tổ chức bộ máy triều đình Đại Việt đầu tiên của Việt Nam, Lưu Cơ được phong là quan đầu triều [7; tr.27]. Giao Châu lúc đó là “kho người, vựa lúa”, có rất nhiều văn sĩ nho giáo… có vị trí chiến lược rất trọng yếu, nên Đinh Tiên Hoàng đã chọn người có học và là quan đầu triều – Thái sư Lưu Cơ để cai quản thành Đại La (Trung tâm mang tính chất Thủ đô của Giao Châu), là An Nam đô hộ phủ suốt thời kỳ Bắc thuộc.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

“Bạch Bát Sơn thần” (nay thuộc làng Bạch Liên, xã Yên Thành, Yên Mô, Ninh Binh) tương truyền là nơi cha mẹ cụ Lưu Cơ đến ăn chay cầu tự

Khi nhà Tiền Lê của vua Lê Đại Hành (980 – 1009) thay thế nhà Đinh, Thái sư Lưu Cơ vẫn được giao trọng trách như cũ, như vậy cai quản La Thành gần 40 năm (971 – 1010). Thái Sư là người tiêu biểu về “độc lập, tự chủ” đã cải tạo thành Đại La (một thành An Nam đô hộ phủ thuộc địa) chủ hướng về Bắc, trở thành một tòa thành quay hẳn về Nam, hướng về Hoa Lư, thể hiện sự độc lập của nước Đại Việt tự chủ. Mọi công trình, như cổng thành và cung điện, dinh thự đều được sửa lại quay hướng về Nam. Nhờ La Thành được chuẩn bị tốt cả về hạ tầng cũng như tinh thần tự chủ, hướng nội nên chỉ trong 2 tháng kể từ khi có chiếu dời đô, Thái sư Lưu Cơ đã bàn giao cho vua Lý Thái Tổ để dời đô từ Hoa Lư ra và nhanh chóng ổn định kinh đô tại Thăng Long.

Năm 1010, sau khi bàn giao La thành cho Lý Công Uẩn, Thái sư Lưu Cơ nghỉ hưu. Người đã về thăm quê cũ ở trang Tri Hối rồi lên trang Đại Từ, Siêu Loại (nay thuộc xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, Hưng Yên), nơi Người đã đóng quân để trực tiếp bình định sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại, Thuận Thành [8]. Tại đây, Người đã ban đất lộc điền cho dân Đại Từ, mỗi suất đinh một mẫu và đất hậu thần để dân làng phát canh lấy tiền lo việc chung. Chính vì vậy, sau khi Người mất, dân làng đã lập đền thờ Người là Thành Hoàng của làng là Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ. Các triều đại sau này đều ban sắc phong. Ngoài ra, Đại vương Lưu Cơ còn được phối thờ tại đền vua Đinh, Phủ Đột – đền Trình (ở Tràng An, Ninh Bình), tại đền Ngọc Sơn (thôn Uy Viễn, Liên Sơn, Gia Viễn, Ninh Bình), miếu thờ Đàm Thái Hậu (thân sinh của Đinh Tiên Hoàng) tại làng Lộc Thọ (xã Độc Lập, Hưng Hà, Thái Bình); là Thánh Cả – Lưu Thiên Tử thờ trong đình Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) [9; tr.49-53 và 290-292]. Đặc biệt, Cao Tổ Lưu Cơ là một trong tứ trụ triều đình được tạc tượng trên quảng trường Trung tâm TP Ninh Bình (tượng đài Đinh Tiên Hoàng đặt tại trung tâm quảng trường) và một đường phố tại trung tâm TP Ninh Bình (vuông góc với đường Đinh Tiên Hoàng) mang tên Lưu Cơ.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Tượng Phò mã Lưu Cơ thờ trong đền Ngọc Sơn, xã Liên Sơn, Gia Viễn, Ninh Bình.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Bà con họ Lưu Danh xã Liên Sơn và đoàn nghiên cứu Họ Lưu VN tại đền Ngọc Sơn.

Thời Tiền Lê, sau khi Lê Hoàn được phong chức Tĩnh Hải Tiết Độ sứ vào năm 982 (sau là Nam Bình vương) đã kết giao yên bình được mặt phía Bắc, vua Đại Hành cất quân chinh phạt Chiêm Thành. Lúc này, Chiêm Thành là một quốc gia tự chủ gần 800 năm, chịu ảnh hưởng văn minh Ấn Độ, thường xuyên đánh phá phía Nam Đất Việt. Vua Lê Đại Hành cho đánh chiếm được kinh đô Đồng Dương (Quảng Nam), chém được vua Chiêm là Tỳ Mi Thuế, làm tiêu tan âm mưu cấu kết với nhà Tống xâm lược Đại Cồ Việt [10; tr.140]. Khi chiếm đến Bình Định (Vijaya), vua Lê Đại Hành cho lưu lại một đạo quân trú phòng dưới quyền chỉ huy của Quản Giáp Lưu Kế Tông để chiếm đóng phần phía bắc Chiêm Thành (từ Hoành Sơn đến Bình Định). Vua Chiêm mới là Indravarman IV bỏ thành chạy trốn vào Nam, cát cứ miền Khánh Thuận (Panduranga)

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Đền thờ Lưu Xá (thờ Nhị vị Lưu Đại vương) tại xã Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình.

Lưu Kế Tông tự lập làm vua Chiêm Thành [11; tr.123-126] và cử sứ giả mang phẩm vật sang triều cống vua Tống. Trong những năm tiếp theo, người Chiêm tiếp tục chống đối Lưu Kế Tông, nên bị trấn áp, nhiều người Chiêm bỏ chạy di tản sang quy phục Trung Quốc (vùng Hải Nam và Quảng Châu) mỗi ngày một nhiều. Năm 988, người Chiêm Thành nổi dậy chiếm lại miền Bình Định, dựng vua mới là Ku Xri Harivarman II (tên Việt là Băng vương La Duệ). Lưu Kế Tông bị bệnh, mất năm 989. Như vậy, Lưu Kế Tông lên ngôi làm vua của Chiêm Thành được 3-5 năm. Việc Lưu Kế Tông Lên ngôi vua của Chiêm Thành là sự thật được sử Tống và sử Chiêm Thành đều ghi lại.

Thái bảo Lưu Ngữ [5]quan nhất phẩm, đại thần nhà Tiền Lê, người có công lớn cho vương triều Tiền Lê, được vua Lê ban đất Lưu Xá để làm thái ấp (nên còn gọi là Lưu Gia) và Người đã trở thành Thành Hoàng làng Lưu Xá, xã Canh Tân, Hưng Hà, Thái Bình. Làng Lưu Xá, xã Canh Tân, Thái Bình (cả nước hiện có 20 làng xã mang tên là Lưu Xá)bến đò Lưu Gia được lưu danh sử sách và có tầm sâu về tâm linh thể hiện trong bài thơ Lưu Gia độ” của Thượng tướng – Thái sư Trần Quang Khải. Thái úy Lưu Khánh Đàm1 và Thái phó Lưu Ba là con cùng cha khác mẹ của Thái Bảo Lưu Ngữ. Hai Người được thờ là Khai quốc công thần, Thượng đẳng Phúc thần trong đền Lưu Xá. Theo “Lưu Đại vương Ngọc phả” thì trong đền Lưu Xá có thờ “Tứ Thánh nhất tâm”, ngoài Lưu Khánh Đàm và Lưu Ba còn thờ hai Đại vương Lưu Kỳ Công và Lưu Huy Công là hai con nuôi của Lưu Ngữ, có công hợp sức với Lưu Khánh Đàm và Lưu Ba trong việc bảo vệ đất nước; cả hai đều được phong làm đại tướng. Khu di tích lịch sử – kiến trúc nghệ thuật (gồm đền Lưu Xá, chùa Báo quốc và các di tích danh nhân họ Lưu) tại xã Canh Tân đã được UBND tỉnh Thái Bình phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 với diện tích 9,6 ha2 và đang được khởi động triển khai đầu tư.

Con thứ ba của Thái Bảo Lưu Ngữ là đại sư Lưu Lượng [13; tr. 196] được thờ trong cụm di tích đình, đền, chùa Diệc, xã Tân Hòa bên cạnh (di tích cấp quốc gia từ 1993). Các đời sau tại Lưu Xá có Lưu Thiện là gia thần của vua Lý Cao Tông (1173-1210), Lưu Thiện và Lưu Vũ Nhĩ được ghi trong sử sách cuối triều Lý.

Cao Tổ Lưu Nhân Chú đã được lịch sử ghi rõ ràng là cùng Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn phò Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa, đánh thắng đuổi quân Minh, giải phóng dân tộc sau 10 năm kháng chiến, lập nên triều đại nhà Hậu Lê của Đại Việt do Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế. Từ Văn Yên, Thái Nguyên bố con Lưu Trung – Lưu Nhân Chú tham gia xây dựng lực lượng ngay từ khi bắt đầu tập hợp lực lượng (1409). Lưu Nhân Chú đã tham gia Hội thề Lũng Nhai (1416), nên được gọi là Lũng Quốc công. Cả gia đình Lưu Nhân Chú, gồm bố là Lưu Trung, anh trai (cùng mẹ khác cha) Trịnh Khắc Phục và em rể là Phạm Cuống đều là khai quốc công thần triều Hậu Lê, đều nằm trong danh sách 51 vị tướng của cuộc kháng chiến, được phong hầu và ban quốc tính [6; tr.167-184].

Lưu Nhân Chú là thiên tài quân sự, đã tham gia chỉ huy đánh trận ở hầu hết tất cả các trận, chiến dịch quan trọng nhất của cuộc kháng chiến đánh đuổi giặc Minh, như ở Thanh Hóa, Nghệ An, Ai Lao, Đất Bắc, Biên giới… điển hình là các trận: Khả Lưu (Nghệ An – 1424), Tây Đô (Thanh Hóa – 1425), chặn địch ở vùng đất Bắc (1426), Chi Lăng (1427), Xương Giang (1427)… Trận Xương Giang – Chi Lăng, tiêu diệt toàn bộ viện binh của quân Minh do Liễu Thăng cầm đầu, phục binh chặt đầu được thống tướng Liễu Thăng. Năm 1428, Lưu Nhân Chú được Lê Lợi ban chức Tể tướng, nhưng vẫn giữ chức nhiệm coi nắm binh quyền, phong hàm Vinh quốc công. Lưu Trung làm chức Nhập nội Tư mã – Đại tướng quân, Chi Quận công. Phạm Cuống làm Nhập nội Thiếu úy, Thượng tướng quân Thượng trụ quốc, Trù Quốc công. Trịnh Khắc Phục làm Tả kim ngô Thượng tướng quân Phán Thái tông Chính phủ.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Lễ Hội Núi Văn – Núi Võ tại đền Lưu Nhân Chú, Văn Yên, Thái Nguyên

Năm 1434, sau khi Lê Thái Tổ mất (Đồng Tể tướng Lê Sát đã sát hại Tể tướng – Thượng tướng quân Lưu Nhân Chú vì ghen gét với tính khảng khái, cương trực và trung thần của Ông). Ngay sau đó (năm 1437), vua Lê Thái Tông đã cách chức Lê Sát và minh oan cho Lưu Nhân Chú; rồi năm 1484, vua Lê Thánh Tông đã truy tặng Lưu Nhân Chú là Thái phó Trung Quận công, Lưu Trung cũng được truy tặng là Thái úy Giới quận công; hàng năm vẫn tổ chức Lễ Hội Núi Văn – Núi Võ để tưởng nhớ đến những Danh nhân họ Lưu ở Thái Nguyên.

Trong Lịch sử Văn hiến đất nước, năm 1075 (đời vua Lý Nhân Tông) bắt đầu tổ chức kỳ thi đại khoa toàn quốc để tuyển chọn nhân tài – “Nguyên khí quốc gia”, chọn trí thức nho học tài giỏi, bổ sung quan chức cao cấp cho triều đình [14]. Tính đến kỳ thi cuối cùng (1919), Họ Lưu Việt Nam có 26 Tiến sỹ nho học (Xem Phụ lục 02), trong đó có 04 người đỗ đầu là Lưu Diễm đỗ đệ nhất giáp (năm 1232) [10; tr.270], Lưu Min đỗ đệ nhất giáp khoa (1239), Lưu Thúc Kiệm đỗ đệ nhất giáp khoa (1400) và Trạng nguyên Lưu Danh Công (1670). Những Danh nhân văn hóa họ Lưu này có đóng góp công lao to lớn cho đất nước, để lại nhiều danh tiếng muôn đời cho con cháu họ Lưu. Các Đức Ngài được phong chức Thượng thư, Đông Các đại học sỹ, Hiến sát sứ, đi Sứ phương Bắc… Tất cả họ là những quan chính trực, thanh liêm, trung thần v.v. ví như TS. Lưu Quỹ làng Nguyệt Áng, đỗ khoa thi Ất Mùi (1835) đã cùng Nguyễn Bỉnh Đức dâng 10 sách lược trị nước, đều là những điều tâm đắc làm cho dân giàu, nước thịnh [15; tr.68-74].

Các nhà khoa bảng cả nước nói chung, của họ Lưu nói riêng đã tạo ra nhiều vùng đất phát triển cho các thế hệ sau này, như họ Lưu – Vĩnh Trị (Hoằng Hóa, Thanh Hóa) có 3 Tiến sỹ (trong đó có 2 Trạng nguyên Lưu Diễm và Lưu Miễn), họ Lưu – Trạm Lộ (Thuận Thành, Bắc Ninh) có 3 Tiến sỹ (trong đó có 1 Trạng nguyên là Lưu Thúc Kiệm), họ Lưu – Thanh Liệt (Thanh Trì, Hà Nội) có Trạng nguyên Lưu Danh Công; họ Lưu Đức – Vũ Nghị (Thái Thụy, Thái Bình) có TS Lưu Đức An đã lập ra các dòng họ Lưu tại Nam Đàn, Hưng Nguyên, Nghệ An, Bắc Giang…); họ Lưu – Nguyệt Áng (Thanh trì, Hà Nội) có 3 Tiến sỹ một nhà (Lưu Tiệp, Lưu Định và Lưu Quỹ)

Kế tiếp hai anh em tướng quân Cần Vương Lưu Điệt và Thượng thư Bộ lễ Lưu Đức Xng (quê ở Cao Lao Hạ, huyện Bố Trạch, Quảng Bình) [16; tr.133-134] (là con của TS Thượng thư Lưu Văn Bình – đỗ Tiến sĩ năm 1853). Tuy chỉ đỗ Cử nhân, nhưng Lưu Đức Xứng đã tham gia viết nhiều bộ sách lớn, như Đại Nam nhất thống chí”, Quảng Bình đăng khoa mục”, Hội điển của triều Nguyễn”. Ngoài ra, còn có nhiều nho sỹ họ Lưu (Cử nhân, Sinh đồ, Tú tài…) đã cống hiến cho triều đình và cho nhân dân trong lịch sử dựng nước và giữ nước.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Mừng thọ tuổi 100 Cụ Lợi (từ trái sang: TS Lưu Văn lượng, TS Lưu Văn Thành GS Lưu Văn Đạt, LG Lưu Văn Lợi, Ô. Lưu Văn Sửu, Ô. Lưu Thế Đài)

Khắp đất nước Việt Nam đều có người của các dòng họ Lưu sinh sống. Trong đó nổi bật tập trung ở một số địa danh nổi tiếng, như Thanh Hóa: điển hình huyện Yên Định có thể là nơi đất cổ của họ Lưu, huyện Thiệu Hóa, quê của Thái bảo Lưu Ngữ và huyện Hoằng Hóa quê của 2 Tiến sĩ đỗ đầu Lưu Diễm và Lưu Miễn, quê của Thượng thư – Thiếu bảo Lưu Đình Chất; Ninh Bình có huyện Gia Viễn quê của Thái sư Lưu Cơ; Thái Bình có huyện Hưng Hà, quê của Nhị vị Lưu đại vương Thái úy Lưu Khánh Đàm, Thái phó Lưu Ba; huyện Thái Thụy, quê của TS. Lưu Đức An; Thái Nguyên có huyện Đại Từ quê của Tể tướng – Thượng tướng quân Lưu Nhân Chú, Đại tướng quân Lưu Trung; Bắc Ninh có huyện Thuận Thành, quê của Trạng nguyên Lưu Thúc Kiệm…; Hải Dương có huyện Cẩm Giàng quê của Thượng Thư Lưu Xuân Tín (Ông Tổ nghề Kim hoàn của Việt Nam); Hà Nội có huyện Thanh Trì, quê của Trạng nguyên Lưu Công Danh, của gia đình ba Tiến sỹ ở Nguyệt Áng…; Ngoài ra, có một bộ phận đang sinh sống bên nước ngoài, như Canada (có người đã từng làm cố vấn cho Thủ tướng Canada), Mỹ (có Nhà thiên văn học GS.TS. Lưu Lệ Hằng) v.v.

Họ Lưu Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh có rất nhiều gương mặt tiêu biểu, như Thiếu tướng Hoàng Thế Thiện (tên thật là Lưu Văn Thi, quê Hà Nam), Uỷ viện dự khuyết BCH TƯ Đảng CSVN, nguyên Thứ trưởng Bộ Quốc phòng; Bà Lưu Thị Phương Mai, nguyên Quyền Bộ trưởng Bộ Lương thực thực phẩm; Viện sỹ, nhạc sỹ Lưu Hữu Phước, nguyên Bộ trưởng Bộ TTVH, Đại biểu Quốc hội – Chủ nhiệm UBVHGD của Quốc hội CHXHCN Việt Nam; Nhà ngoại giao kiệt xuất, hàm Bộ trưởng, Luật gia Lưu Văn Lợi, nguyên Trưởng ban Biên Giới của Chính Phủ (hiện đang hưởng thọ tuổi 102); GS.TSKH Lưu Trần Tiêu, Chủ tịch HĐ Di sản Quốc Gia, (nguyên Thứ trưởng thường trực Bộ VHTTDL); Ông Lưu Văn Mẫn, nguyên Phó chánh VP TƯ Đảng CSVN, TS Lưu Minh Trị chủ tịch hội DSVH Thăng Long, Hà Nội, nguyên PCT UBND Hà Nội; ông Lưu Minh Hiệu, nguyên PCT UBND tỉnh Thái Bình.

Về KHKT, họ Lưu có hàng trăm GS, PGS, TS, điển hình nhất là GS TS Jane X. Luu (tên Việt là Lưu Lệ Hằng, sinh năm 1963 tại Sài Gòn, quê ở Nam Định, sang Mỹ năm 1975). Giáo sư và người thầy dạy (Giáo Sư David C. Jewitt, giám đốc Viện NC Thiên Thể, Đại học UCLA), với Công trình Ðịnh danh các vật thể ngoài Hải Vương Tinh” (Trans-Neptunian Objects) đã được giải thưởng Shaw Thiên Văn học 2012” của Hồng Kông (gọi là giải Nobel” Châu Á) và Công trình khám phá Vành đai Kuiper” được giải Kavli Thiên Văn học 2012” của Na Uy, tổng trị giá 2,0 triệu USD. Tên GS TS Jane X. Luu được đặt cho một ngôi sao 5430Luu.

họ lưu có nguồn gốc từ đâu

Gia đình VS Lưu Duẩn gặp mặt tại Hà Nội sau Lễ nhận bằng Danh hiệu Viện sĩ Thế giới

Ngoài ra, còn cóGiaos sư – Luật sư nổi tiếng Lưu Văn Đạt (nguyên PCT kiêm TTK Hội Luật Gia, Uỷ viên Đoàn CT Hội đồng tư Vấn Dân chủ pháp luật, MTTQ Việt Nam); Viện sĩ Giáo sư TSKH Lưu Duẩn (Đại Học Công Nghệ Sài Gòn) được giải “Thực phẩm toàn cầu” của IUFoST World Congress tại Braxin 2012…; hai đại biểu Quốc Hội khoá XIII (Lưu Thị Huyền, Chủ tịch MTTQ huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình; Lưu Thành Công, PGĐ Sở GDĐT Vĩnh Long). Họ Lưu Việt Nam có 12 sỹ quan cấp tướng, trong đó có 4 trung tướng (Lưu Đức Huy, Lưu Phước Lượng, Lưu Sỹ Hiệp, và Lưu Bá Xảo); Nhiều văn nghệ sỹ nổi tiếng như GS Lưu Hữu Phước, nhà thơ Lưu Trọng Lư; hai cha con nhà biên kịch Lưu Quan Thuận và Lưu Quang Vũ, nghệ sỹ Piano Lưu Hồng Quang…; Hoa hậu Lưu Diễm Hương… và rất nhiều doanh nhân đang hoạt động phát triển kinh doanh hàng ngày. Trong kháng chiến thắng đế quốc xâm lược, họ Lưu có rất nhiều đóng góp, điển hình là Anh hùng LLVT Lưu Viết Thoảng (quê ở Bắc Giang, trong Chiến thắng Điện Biên Phủ); Anh hùng LLVT –Đại tá Lưu Huy Chao (quê Thanh Hóa, phi công bắn rơi 6 máy bay Mỹ và yểm hộ cho đồng đội hạ 11 chiếc khác), Anh hùng Lưu Quí An (quê Mê Linh, Hà Nội) và nhiều con em họ Lưu Việt Nam đã hy sinh xương máu trên chiến trường, là thương binh và nhiều người mẹ họ Lưu đã trở thành Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; nhiều người lập chiến công hiển hách được tặng thưởng nhiều huân, huy chương các loại.

Trong công cuộc xây dựng đất nước có nhiều đồng tộc họ Lưu tiêu biểu, như AHLĐ Lưu Đình Thành (họ Lưu Đình – Đan Nê, Thanh Hoá), AHLĐ Lưu Bang (Quảng Nam)…

Vừa qua, rất nhiều sự kiện sôi động được tổ chức ở nhiều địa phương, giúp cho nhiều dòng họ Lưu giao lưu kết nối với nhau; trang web LUUTOC.VN đã giúp nhiều đồng tộc họ Lưu trong và ngoài nước có thể tìm hiểu và đối chiếu cội nguồn của dòng họ của mình, điển hình là họ Lưu ở Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Phú Thọ, Hà Nội, Đà Nẵng – Miền Trung, TP Hồ Chí Minh – Miền Nam, Hải Phòng, Nghệ An… Tuy nhiên, thông tin về các dòng họ Lưu toàn quốc còn tản mạn, rất cần thu thập nhiều hơn tư liệu từ các nguồn tư liệu của các dòng họ, tra cứu nhiều tư liệu lịch sử từ nhiều nguồn khác nhau. Trên cơ sở đó, mới có thể có bức tranh tổng thể về họ Lưu Việt Nam, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc kết nối các dòng họ Lưu lại với nhau thành một cộng đồng gắn bó và liên kết họ tộc chặt chẽ.

PHỤ LỤC

Phụ lục 01

QUAN ĐẠI THẦN, DANH TƯỚNG HỌ LƯU THỜI XƯA

(Xếp theo thời gian; Không kể các Tiến sỹ thi đỗ Đại khoa)

TT

HỌ VÀ TÊN

QUÊ QUÁN

CHỨC QUAN

THỜI GIAN

1

Lưu Cơ

Ninh Bình

Thái sư Độ hộ phủ

Khai quốc công thần, quan đứng đầu triều đình

Nhà Đinh, nhà Tiền Lê, nhà Lý

2

Lưu Kế Tông

Giáp Quân, sau là Vua Chiêm Thành (984 – 989)

Nhà Tiền Lê

3

Lưu Ngữ

Thanh Hóa

Thái bảo

Nhà Tiền Lê

4

Lưu Khánh Đàm

Thái Bình

Thái úy

Khai quốc công thần

Nhà Lý

5

Lưu Ba (Lưu Điều)

Thái Bình

Thái phó

Khai quốc công thần

Nhà Lý

6

Lưu Lượng

Thái Bình

Đại sư (Quốc sư)

Nhà Lý

7

Lưu Vũ Xứng

Gián nghị Đại phu

Nhà Lý

8

Lưu Trung

Thái Nguyên

Đại tướng Khai quốc công thần

Nhà Lê Sơ

9

Lưu Nhân Chú

Thái Nguyên

Tể tướng

Khai quốc công thần

Nhà Lê sơ

10

Lưu Quận Tri

Nam Định

Tổng Minh Đô

Nhà Lê sơ

11

Lưu Xuân Tín

Hải Dương

Thượng thư Bộ Công

Nhà Lê sơ

12

Lưu Văn Tiên

Quảng Bình

Đại tướng quân, Chánh nhất phẩm

Nhà Lê, Mạc

13

Lưu Thế Tán

Thanh Hóa

Thượng tướng quân; Phương Quận Công

Lê Trung Hưng

14

Lưu Thế Chân

Thanh Hóa

Thượng tướng quân

Lê Trung Hưng

15

Lưu Thế Canh

Thanh Hóa

Thượng tướng quân

Lê Trung Hưng

16

Lưu Đình Thưởng

Thanh Hóa

Quận Công

Lê Trung Hưng

17

Lưu Đắc Thái

Ninh Bình

Phấn dũng tướng quân

Lê Trung Hưng

18

Lưu Bá Vinh

Ninh Bình

Đại tướng

Lê Trung Hưng

19

Lưu Bá Vĩnh

Ninh Bình

Thiên Hộ tướng quân

Lê Trung Hưng

20

Lưu Điệt

Quảng Bình

Tướng quân Cần Vương

Nhà Nguyễn

21

Lưu Đức Xứng

Quảng Bình

Thượng thư Bộ Lễ, tướng quân Cần vương

Nhà Nguyễn

22

Lưu Đình Cơ

Nghệ An

Lưu Bá Hộ Phấn Lực Tướng quân

Lê Trung Hưng

Phụ lục 02

DANH SÁCH CÁC NHÀ KHOA BẢNG LƯU TỘC VIỆT NAM

TT

HỌ VÀ TÊN

ĐỖ TS

QUÊ QUÁN

HÀM VỊ

GHI CHÚ

1

(Có tài liệu viết tên là Lưu Bính)

(22t)

Xã Vĩnh Trị, huyện Hoằng Hóa (nay là thôn Vĩnh Trị, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa), tỉnh Thanh Hóa

Đệ nhất giáp, khoa thi Thái học sinh Nhâm Thìn (cùng đỗ đệ nhất giáp với Trương Hanh)

Còn có ghi là Lưu Bính. Đỗ đời vua Trần Thái Tông. Làm quan đến chức Đông các đại học sĩ. Em của Lưu Miễn, Viễn tổ của Lưu Thành

2

LƯU MIỄN

1239

Xã Vĩnh Trị, huyện Hoằng Hóa (nay là thôn Vĩnh Trị, xã Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa), tỉnh Thanh Hóa

Đỗ thứ nhất, Đệ nhất giáp khoa thi Thái học sinh, năm Kỷ Hợi

Đỗ đời Trần Thái Tông; Làm quan đến chức Tả Tư mã, An phủ sứ lộ Thanh Hóa, tước Minh tư; có công đắp đê các sông ở Thanh Hóa. Là anh của Lưu Diễm, viễn tổ của Lưu Thành

3

LƯU THÚC KIỆM

1400

Làng Trạm Lộ, huyện Gia Bình, phủ Thuận An (nay là xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh)

Đệ nhất giáp khoa thi Thái học sinh, năm Canh Thìn

Đỗ thời vua Hồ Quí Ly. Cùng thi đỗ với Nguyễn Trãi (đỗ Đệ nhị giáp khoa). Làm quan đến Hàn lâm trực học sĩ. Giỏi văn biện nên được giao soạn văn bản với các nước

4

LƯU CÔNG NGẠN

1463

Xã Khúc Lễ, H. Thủy Đường, phủ Kinh Môn (nay là H. Thủy Nguyên), Hải Phòng

Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp), khoa Quí Mùi

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. (Bia số 3-Văn Miếu)

5

LƯU HY

1478

Xã Thượng Thanh Oai, H. Thanh Oai (nay xã Văn Yên, thị xã Hà Đông), tỉnh Sơn Tây (Hà Nội)

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, khoa Mậu Tuất

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hiến sát sứ

6

LƯU HƯNG HIẾU

1481

(22t)

Xã Lương Hà, huyện Vĩnh Linh (nay là huyện Vĩnh Lộc), tỉnh Thanh Hóa

Đệ nhất giáp Tiến sỹ cập đệ đệ nhị danh (Bảng nhãn), năm Tân Sửu

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Đã đi sứ TQ; Đảm chức Thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ, chưởng Hàn lâm viện sự. Tác phẩm còn 9 bái thơ chép trong TVTL

7

LƯU NGẠN QUANG

1481

(25t)

Xã Viên Khê (nay là thôn Thanh Oai, xã Đông Anh), H. Đông Sơn, Thanh Hóa

Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp), khoa Tân Sửu

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Tả thị lang.

8

LƯU DI QUYẾT

1481

Xã Như Phương, huyện Tế Giang (nay là thôn Phượng Thượng, xã Long Hưng), Châu Giang, Hưng Yên

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, khoa Tân Sửu

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hiến sát sứ

9

LƯU TÚC

1487

Xã Vũ Di, huyện Bạch Hạc (nay là H. Vĩnh Tường), tỉnh Vĩnh Phúc

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, khoa Đinh Mùi

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Thượng thư; Không làm quan nhà Mạc, tử tiết

10

LƯU THƯ NGẠN

1490

Xã Đa Nghi, huyện Vĩnh Lại (nay là huyện Vĩnh Bảo), Hải Phòng

Đệ nhất Tiến sỹ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa), khoa Canh Tuất

Còn có ghi là Lưu Ngạn Thư. Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm viên thị chế

11

LƯU DỊCH

1490 (28t)

Xã Nại Châu, huyện Kim Thành (nay vẫn là Kim Thành), Hải Dươg

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Canh Tuất

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông, là HViên hội Tao đàn. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Hiệu thảo

12

LƯU THẮNG ÂN

1493

Xã Trạm Lộ, huyện Gia Định (nay thuộc xã Trạm Lộ, huyện Thuận Thành), tỉnh Bắc Ninh

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Quý Sửu

Đỗ đời vua Lê Thánh Tông. Làm quan đến chức Đô cấp sự trung. Cháu của cụ Lưu Thúc Kiệm

13

LƯU HÃNG

1505 (30t)

Xã Tu Lễ, H. Sơn Minh (nay là thôn Tu Lễ, xã Kim Đường), H. Ứng Hòa, Hà Tây, HN

Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp), năm Ất Sửu

Đỗ đời vua Lê Uy Mục. Làm quan đến chức Đông các

14

LƯU VĂN NGUYÊN

1505

(33t)

Xã Nhân Mỹ, H. Từ Liêm (nay là thôn Nhân Mỹ, xã Mỹ Đình, H. Từ Liêm), Hà Nội

Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp), năm Ất Sửu

Đỗ đời vua Lê Uy Mục; Cha là Lưu Hịch

15

LƯU KHÁI CHUYÊN

1518

Xã An Đê, huyện Đường An (nay thuộc huyện Bình Giang), Hải Dươg

Đệ nhất Tiến sỹ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa), Mậu Dần

Đỗ đời vua Lê Chiêu Tông. Làm quan đến chức Hình bộ Hữu thị lang, về trí sĩ

16

LƯU DOÃN TRUNG

1526

Xã Vương Xá, H. Siêu Loại (nay là xã Nghĩa Đạo, H. Thuận Thành), tỉnh Bắc Ninh

Đệ nhất Tiến sỹ cập đệ đệ tam danh (Thám hoa), năm Bính Tuất

Đỗ đời vua Lê Cung Hoàng. Làm quan nhà Lê đến chức Thị Lang. Nhà Lê mất, không chịu ra làm quan nhà Mạc.

17

LƯU HỊCH

1526

Xã Nhân Mỹ, Từ Liêm (nay thuộc xã Mỹ Đình, Từ Liêm), Hà Nội

Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp), năm Bính Tuất

Đỗ đời vua Lê Cung Hoàng. Làm quan đến Hàn lâm hiệu lý. Con của cụ Lưu Văn Nguyện

18

LƯU ĐỨC AN

1538

Xã Vũ Nghị, huyện Thanh Lan (nay là thôn Vũ Công, xã Vũ Thụy, H. Thái Thụy), Thái Bình

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Mậu Tuất

Đỗ đời vua Mạc Đăng Doanh. Làm quan đến chức Thừa chính sứ

19

LƯU ÚC

1577 (26t)

Xã Qui Tức, huyện An Lão (nay là thôn Qui Tức, thị xã Kiến An), TP Hải Phòng

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Đinh Sửu

Đỗ đời vua Mạc Mậu Hợp. Trước làm quan nhà Mạc, sau theo nhà Lê, làm quan đến chức Thị lang, từng đi sứ sang nhà Minh

20

LƯU ĐÌNH CHẤT

1607 (42t)

Xã Quỳ Chử Hóa (nay là thôn Quỳ Chữ, xã Hoàng Quỳ), huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa

Đỗ Đình Nguyên, Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp), năm Đinh Mùi

Đỗ đời vua Lê Kinh Tông. Đã từng đi sứ sang nhà Minh. Làm quan đến chức Tá lý công thần, Tham tụng, Hộ bộ Thượng thư, Thiếu bảo, tước Lộc quận công. Khi mất được thăng Thiếu sư.

21

LƯU DANH CÔNG

1670 (27t)

Xã Phương Liệt, huyện Thanh Trì (nay thuộc phường Phương Liệt, quận Đống Đa), Hà Nội

Đệ nhất Tiến sỹ cập đệ đệ nhất danh (Trạng nguyên), khóa thi năm Canh Tuất

Đỗ đời vua Lê Huyền Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm thị độc. Thọ 32 tuổi.

22

LƯU THÀNH

1712 (48t)

Xã Vĩnh Trị (nay là thôn Vĩnh Trị, xã Hoằng Quang), huyện Hoằng Hóa, Thanh Hóa

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Nhâm Thìn

Đỗ đời vua Lê Dụ Tông. Làm quan đến chức Đông các hiệu thư

23

LƯU TIỆP

1772 (31t)

Xã Nguyệt Áng (nay là Nguyệt Áng, xã Đại Áng), H. Thanh Trì, Hà Nội

Đỗ khoa Sĩ vọng; Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Nhâm Thìn

Đỗ đời vua Lê Hiển Tông. Làm quan đến chức Hàn lâm viện Thị độc, Đốc trấn Cao Bằng

24

LƯU ĐỊNH

1775 (30t)

Xã Nguyệt Áng (nay là thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng, Thanh Trì, Hà Nội

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Ất Mùi

Đỗ đời vua Lê Hiển Tông, cùng TS Ngô Thì Nhậm. Em của TS Lưu Tiệp.

25

LƯU QUỸ

1835 (25t)

Xã Nguyệt Áng (nay là thôn Nguyệt Áng, xã Đại Áng), huyện Thanh Trì, Hà Nội

Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân, năm Ất Mùi. Sinh năm Tân Mùi, cử nhân năm Tân Mão (1831)

Đỗ đời vua Minh Mệnh. Là người nhà của TS Lưu Tiệp và TS Lưu Định. Thị giảng học sĩ. Làm Tri phủ Nam Sách, Hải Dương, rồi Giám sát ngự sử. Là người thẳng thắn. dám tâu việc can ngăn vua. Năm Thiệu Trị 1 (1841), dâng sớ trình 10 sách lược trị nước; có điều trần về việc hải giới ở Bắc Kỳ, được thăng hàm Hàn lâm viện thị giảng học sĩ, sung Sứ quán Toản tu

26

LƯU VĂN BÌNH

1853 (52t)

Xã Cao Lao, huyện Bố Chính (nay là thôn Cao Hạ, xã Hạ Trạch, huyện Bố Trạch), tỉnh Quảng Bình

Đỗ Phó bảng khoa Quí Sửu. Sinh năm Nhâm Tuất. Giám sinh

Đỗ đời vua Tự Đức. Làm quan đến chức Hình bộ viên ngoại lang. Cha của Lưu Đức Xứng, ông nội của Lưu Vĩnh Kiến

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Họ và Tên người Việt Nam, Tác giả TS. Lê Trung Hoa, Nxb KHXH, 2005.

  2. Địa chí huyện Yên Định (tỉnh Thanh Hóa), Nxb KHXH, 2010.

  3. Lĩnh Nam chích quái, Tác giả Trần Thế Phát, do Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch, quyển I (Truyện cây cau), Nxb Văn hóa, 1960.

  4. Hà Nội thời tiền Thăng Long; Tác giả TS. Nguyễn Văn Việt, Nxb 2010.

  5. Lưu Đại vương Ngọc phả (Bản dịch ngày 06/12/2009 của Nguyễn Tiến Đoàn), bản tiếng Hán lưu tại đền Lưu Xá (đền Nhị vị Lưu Đại vương).

  6. Danh nhân lịch sử Lưu Nhân Chú (Kỷ yếu Hội thảo khoa học của Sở VHTT Thái Nguyên và Viện Sử học Việt Nam), Sở VHTT Thái Nguyên -2001.

  7. Đại Việt sử lược, quyển I, Nxb Giáo dục Việt Nam, 2012.

  8. Đại vương ngọc phả lục (Phả đình thôn Đại Từ, xã Đại Đồng, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên) – Bản dịch năm của Nguyễn Đức Toàn; Bản sao chép chữ Hán lưu tại đình Đại Từ thờ Tuy Lộc Đại vương Lưu Cơ là Thành hoàng làng.

  9. Bát Tràng – Làng nghề, làng văn; Chủ biên PGS. TS. Bùi Xuân Đính; Nxb Hà Nội 2013.

  10. Đại Việt sử ký toàn thư (Trọn bộ), Nxb Thời đại, 2011.

  11. Le Royaume de Champa; Tác giả M. Georges Maspero, Paris et Bruxelles – Les editions G. Van Oest, MDCCCCXXVIII.

  12. Hoàng Văn Lâu, Viện Nghiên cứu Hán Nôm “Về mộ chí Thái phó Lưu Khánh Đàm”, Thông báo Hán Nôm học 1996.

  13. Phạm Minh Đức, Bùi Duy Lan “Đất và người Thái Bình”, Nxb Văn hóa thông tin Hà Nội, 2010.

  14. Ngô Đức Thọ (Chủ biên), Nguyễn Thúy Nga, Nguyễn Hữu Mùi “Các nhà khoa bảng Việt Nam”, Nxb Văn học, 1993.

  15. Nguyệt Áng làng khoa bảng; Đảng ủy-HĐND-UBND xã Đại Áng; Nxb Hà Nội, 2011.

  16. Lê Văn Sơn “Lê Mô Khải” danh tướng thời Cần Vương, Nxb Thuận Hóa, 2002.

TS. Lưu Văn Thành

Hà Nội, ngày 15/11/2014.

1 Có một điểm tồn nghi về năm mất của Thái úy Lưu Khánh Đàm: Theo Lưu Đại vương Ngọc phả [5] thì Thái úy Lưu Khánh Đàm mất năm 1058; nhưng theo chính sử: Toàn Thư [10; tr.229] là mất năm 1131 và theo mộ chí [12; tr.165-171] thì là 1161. Điều này cũng đã được đề cập trong Lý lịch di tích của đền.

2Quyết định số 2785/QĐ-UBND tỉnh Thái Bình, ngày 13/12/2013.

Tag: họ lưu có nguồn gốc từ đâu

0 ( 0 voted )

Cẩm nang Hải Phòng

https://camnanghaiphong.vn
Cẩm nang Hải Phòng là mạng xã hội cho mọi người cùng nhau chia sẻ thông tin về du lịch, văn hóa, ẩm thực và tất tần tật về thành phố cảng đầy tự hào.

Bải viết liên quan

View more